truyen ma | Hồn ma hải tặc Râu Đen
Henry? Đồng tiền này có thể của Râu Đen!
Nói rằng Henry lấy đồng tiền từ tay John là dùng không đúng từ. Vì cậu bé vội giật lấy và nói:
- Đưa tớ xem nào! Có thể còn hàng trăm đồng tiền như thế này ở tại đây.
Cậu bé cho đồng tiền vào trong túi. Nhưng John lại đã lại bắt đầu bò đi lục tìm từ bức tường này sang bức tường khác, từ lỗ hổng này sang lỗ hổng khác để tìm một kho báu.
Henry vội vàng bò theo bạn. Cậu vừa thọc sâu tay xuống dưới lớp bụi của sàn nhà vừa hỏi:
- Cậu có nghĩ rằng sẽ tìm được những đồng tiền khác nữa hay không?
Giọng John đáp lại từ xa:
- Cậu nói gì, tớ không hiểu?
Henry nói lớn hơn:
- Tớ nói là cậu có nghĩ rằng sẽ tìm được những đồng tiền vàng nữa không?
- Có lẽ thế.
Chúng làm việc như những con chuột chũi bị đói. Chúng đào bới, sục sạo làm dấy lên hàng đống bụi dày, khuấy động đống đất đá, xem xét tỉ mỉ từng xó xỉnh, khe rãnh nơi mà mắt con người có thể nhìn thấy được từ hơn hai thế kỷ qua. Chúng cực nhọc len lỏi trong những hầm hố mà những người công nhân phá hủy ngôi nhà đã tạo ra trong khi bốc những lớp trang trí mới thực hiện vài chục năm gần đây. Chúng tự tạo một con đường qua những đống rác rưởi và thường chúng phải xé bỏ những tấm mạng nhện dày như những bức màn thực thụ.
-Nào, nhanh lên đi. – Henry sốt ruột nói, – Cậu không muốn xem những gì tớ đã tìm sao hả?
- Có chứ! – John đáp với vẻ như muốn nói. – Cậu thật là phiền quá đi!
Cậu đi theo sau Henry vào trong hành lang vừa cố làm ra vẻ không thấy quan tâm. Thình lình cậu dừng lại, cúi xuống, mân mê sợi dây giày, mặc dù chúng đã được buộc chặt tử tế. Henry chờ bạn, càng lúc càng sốt ruột. Đứng trên ngưỡng cửa vào phòng chính, cậu nhìn John vẫn đang nghiêng mình tiếp tục buộc dây giày.
- Đến đây… Đến đây đi mà! – Cậu bé giận dỗi nói. – Cậu sẽ lo buộc dây giày sau!
Tuy nhiên John làm như không biết rằng bạn mình càng lúc càng nổi giận, vừa làm bộ thắt nút dây giày, cậu đã có một ảo giác lạ thường. Cậu nhìn thấy Henry đang quỳ gần một trong những chiếc hòm mà những hải tặc cất giấu kho tàng.Chiếc hòm này gần những đồng tiền vàng và làm rơi ra từ những kẽ tay hàng trăm đồng tiền lấp lánh!
Bị ám ảnh bởi ảo giác đó, John đứng thẳng người lên, lòng tràn đầy một nỗi buồn mênh mông. Cậu nhận ra rằng Henry đã thật sự khám phá ra một cái gì đó và e sợ sẽ chứng kiến một điều tệ hại hơn, cậu không dám hỏi vật tìm ra là cái gì. Đầu óc đầy những ý nghĩ không vui lê chân tiến đến.
- Nào, cái cậu tìm thấy là cái gì vậy?
- Một cánh cửa… Cuối cùng, phải, một cánh cửa.
- Nếu như cậu ấy muốn mình sập bẫy, thì lầm rồi!
Đúng lúc đó, giọng nói của Henry vang lên, thành thật và thôi thúc:
- Nhanh lên nào John! Cậu phải nhìn thấy cái này. Thật tuyệt!
Đến lượt John chui vào những mảnh ván. Cậu bé có cảm tưởng trên mình là một mái nhà rất nghiêng. Henry chờ đón cậu với một vẻ chiến thắng:
- Tớ đã nói gì với cậu hả? Không phải là một cánh cửa mà là một lối đi vào. Nhưng tớ không nhìn lầm phải không nào?
John mở to mắt lắp bắp: (…)
Hai cậu bé bò đến gần lối đi vào. Quỳ gối cạnh nhau ở bậc cửa, chúng nhìn vào một cầu thang xoắn ốc tối om. Chúng nhìn thấy những bức tường, những nấc thang, một trần nhà nơi những tảng đá trơn và xám phủ một lớp rêu xanh. Chúng cũng nhìn thấy một bức màng nhện te tua phủ xuống từ trần nhà này.
Không khí bụi bậm và ẩm thấp. Những luồng không khí lạnh lẽo nhẹ nhàng bốc lên từ hướng hai cậu bé và có tiếng nước rơi từng giọt.
- Đây chắc chắn là lối đi bí mật của hải tặc Râu Đen, – John thì thầm.
- Chắc chắn là như thế. – Henry đáp và nở một nụ cười tinh quái. – Tớ mong rằng lần sau cậu sẽ tin khi tớ nói với cậu rằng tớ đã tìm ra cái gì đó!
John đứng lên nhưng chỉ lom khom thôi vì sợ đụng vào những tấm ván trên đầu. Và làm như không nghe điều mà bạn cậu vừa nói, cậu nói khi bước xuống bậc thang thứ nhất:
- Tớ tự hỏi con đường này đưa đến đâu?
- Tớ cũng vậy. – Henry lơ đãng đáp.
Rồi khi nhận thấy John đã bắt đầu đi xuống cầu thang cậu cũng đứng lên.
- Cậu muốn đi xuống thật sao?
- Sao lại không chứ? Còn cậu?
- Không bao giờ!
Đến lượt John cười phá lên nói:
- Cậu sẽ không nói rằng cậu sợ chứ?
Henry tỏ vẻ tức giận, phản đối;
- Tớ mà sợ à?
- Nếu không sợ thì chúng ta cùng xuống bên dưới. Chúng ta sẽ thấy rõ xem nó có đáng quan tâm không?
Lấy hết can đảm Henry qua mặt John, nhảy bốn bậc thang một đi xuống. Bỗng cậu khựng lại, nhíu mày, khuôn mặt căng thẳng nhìn trong bóng tối. Chợt cậu quay lại, leo bốn bậc thang một và nói:
- Đúng như cậu nghĩ!
- Có chuyện gì vậy Henry? – John hỏi.
- Tối đen như một cái giếng ấy, không thấy gì cả.
- Cậu có mẩu nến, còn tớ có bao diêm.
Henry thành thật tiếc rằng cậu đã tìm ra cái cầu thang chết tiệt. Vì cậu không sợ hãi mà chỉ thận trọng. Cậu không bao giờ thích những nơi phủ đầy bóng tối. Còn về John, cậu rất thích bạn mình và xem như là người bạn thân nhất. Nhưng John luôn luôn đưa đến cho cậu những thử thách. Và cậu chính là chúa trùm về công việc này! Cũng như lần này đây cậu muốn cả hai phải xuống cầu thang tối như chui xuống hang chuột chũi này. Tại sao có loại người hay chõ mũi vào một nơi, không ngừng thử giải quyết mọi vấn đề như thế nhỉ. Henry miễn cưỡng lôi từ túi bên phải ra mẩu nến và đồng thời cậu cũng muốn kiểm tra xem đồng tiền có còn ở trong túi nữa hay không.
- Chắc là không cháy, nó cũ quá rồi. – Cậu nói khi chìa mẩu nến vàng và hết sức mong rằng sẽ đúng như cậu nói.
John chờ đợi, túi diêm trong một tay. Và tay kia cầm một que với ngón trỏ và ngón cái sẵn sàng bật lên.
- Hãy dốc ngược đầu lên cho bấc nằm ở dưới. – Cậu ra lệnh. – Tớ đốt nó đây.
Khi que diêm được đốt, cậu đưa ngọn lửa gần bấc nến. Trước hết một chùm tia lửa bốc lên… rồi sau một thời gian hai trăm năm trong bóng tối và giá lạnh mẩu nến kêu tí tách và bùng lên. Nó không tạo ra một ngọn lửa dịu dàng và rõ như nến hiện đại. Nó bốc khói và phát ra một ánh sáng yếu ớt và hăng hăng mùi lưu huỳnh. Hơn nữa nó chảy và xông đầy mũi bọn trẻ mùi mỡ bị đốt cháy. Cuối cùng nó dội lên trần nhà, chung quanh tường một thứ ánh sáng khi rõ khi mờ chập chờn khóe lên không khí trở nên nặng nề, ấm cúng đáng sợ.
Henry hầu như đờ đẫn vừa nhìn ngọn lửa vừa nghĩ: “Dĩ nhiên, sáng còn hơn không”.
Cậu bé lớn tiếng nhận xét:
- Không tốt lắm phải không?
- Ừ. – John thừa nhận. –Nhưng nó vẫn cháy. Điều cần thiết là vậy.
Henry đưa mu bàn tay lên quẹt mũi, hít một hơi, rồi nhìn cầu thang, ít ra là đến khúc quanh đầu tiên.
- Nếu cậu muốn. – Henry đề nghị. – Tớ sẽ đi lấy đèn pin. Cây nến này không tốt, nó chắc chắn sẽ tắt ngấm thôi.
- Không đâu Henry, nó sẽ không tắt đâu. – John đáp lại. – Nó còn cháy tốt mà!
Sau một lúc im lặng, John nói:
- Cậu nghĩ gì vậy? Rằng tớ có ý định xuống tận dưới đó à? Không đâu, tớ chỉ muốn xuống một vài bậc thang là đủ rồi.
Henry nhíu mày:
- Nghe này, John. Tớ chỉ cần hơn năm phút để đi lấy cây đèn pin. Nó sẽ .chiếu sáng tốt hơn cây nến này, hơn nữa bố tớ cũng mới vừa thay pin
- Được. Nhưng cậu không biết rằng, nếu cậu về nhà mẹ cậu sẽ tìm ra một việc gì đó bắt cậu làm. Còn tớ, tớ sẽ phải chờ ở đây à?
John ngừng một chốc và nói thêm:
- Henry, cậu biết đấy, tớ hoàn toàn không muốn đi xuống cầu thang này một mình. Còn nến thì tớ chắc chắn đủ cho cả hai chúng ta.
Ánh mắt của cậu bé có vẻ van lơn khiến Henry nhớ đến đôi mắt của con chó Butch của cậu.
Điều đang chi phối Henry là một phần cậu e rằng nếu cậu trở về nhà sẽ bị mẹ cậu giữ lại, một phần này nặng hơn. Nó có cảm tưởng rằng John cần cậu. Không phải lúc nào cũng có đồng loại cần đến sự giúp đỡ của cậu, hầu như là sự bảo vệ của cậu. Đặc biệt là John có vẻ như không bao giờ cần ai. Do đó Henry tự cảm thấy mình rất quan trọng và vô cùng được vuốt ve.
- Nào, Henry, ta đi thôi! – John lại nói với ánh mắt van lơn.
Hầu như sự hăng hái luôn thắng thế khi nó được sự vuốt ve động viên. Và Henry cuối cùng cũng thực hiện những gì John chờ đợi cậu như mọi khi.
Chiếc cầu thang có vẻ như xuống thấp thẳng đứng trong lòng đất. Henry đi sau John và đi sát vào người bạn. Cậu đặt một tay đặt lên vai bạn và tay kia chống vào những phiến đá lạnh lẽo nhẵn bóng như tìm kiếm điểm tựa. Hai đứa trẻ lặng lẽ xuống từng bậc thang. Những tiếng động bên ngoài, Tiếng xe chạy trong đường bên cạnh xa dần rồi trở nên càng lúc càng yếu đi. Không bao lâu John và Henry chỉ còn nghe những tiếng giọt nước. Dần dần chúng nó có cảm giác bị bao trùm bởi một tấm chăn ướt.
Thình lình Henry hét lên, đập lên ngực, lên gáy, vặn vẹo người, giậm chân. Do không thấy trên tường một mạng nhện đầy bụi bặm cậu đã thọc tay vào. Một con vật đen, có nhiều chân đã chạy trên cườm tay, leo lên cánh tay và chui vào cánh tay ngắn của áo sơ mi.
- Gì vậy Henry? Cậu suýt làm tớ đánh rơi cây nến!
- Một con nhện hay một con vật khác tớ không biết nữa, đã bò dọc cánh tay tớ! Nào John chúng ta hãy bỏ đi!
- Nó đi chưa?
- Rồi, tớ nghĩ là vậy.
- Vậy thì đừng nghĩ đến nó nữa, thế thôi.
- Ồ, không! Tớ sẽ bỏ đi. – Henry nói với giọng hết sức bình tĩnh, lạ lùng không muốn cho ai bàn cãi gì cả.
John hầu như muốn làm theo lời bạn, khi cậu bỗng có một sáng kiến. Cậu nhìn nhanh về phía độ dốc đáng chóng mặt của chiếc cầu thang.
- Khoan đã, Henry, nhìn kìa!
Henry đã bắt đầu đi lên cầu thang bỗng quay lại.
- Cái gì vậy?
- Chính lúc cậu la lên tớ đã định nói với cậu. Nhìn xuống dưới kia đi!
- Đâu? – Henry vừa nói vừa chỉ xuống bậc thang. – Tớ chẳng thấy gì cả.
- Kia kìa. – John nhấn mạnh, vừa che ánh nến vừa hất hàm chỉ chân cầu thang.
Henry vươn cổ ra.
- Tớ không hiểu, John… Hình như trong cái hầm này có ánh sáng. Làm sao mà…
- Tớ không biết. Theo cậu chúng ta đang ở độ sâu bao nhiêu hả?
Không chờ Henry trả lời, John cương quyết lao nhanh về phía trước.
Henry kêu to:
- Đừng bỏ đi như thế! Cậu mang nến theo, tớ phải thấy chỗ đặt chân để đi chứ!
Mặc dù không còn cần đến nến Henry vẫn thận trọng khi bắt đầu xuống cầu thang lại. Đồng thời cậu cũng tiếp tục phản đối “những kẻ có nến mà bỏ rơi bạn bè trong bóng tối”. Cậu nghe tiếng bước chân của John bỗng nhiên thay đổi nhịp điệu, chuyển sang một chuỗi tiếng trượt để rồi cuối cùng là một tiếng kêu cố nén lại.
Henry há hốc mồm một lúc rối thì thầm hỏi:
- Xảy ra chuyện gì vậy?
Bây giờ trừ tiếng nước nhỏ giọt và tiếng còi xe cấp cứu từ xa, cậu không còn nghe gì nữa cả. Bỗng cậu thét lên và cử động mạnh.
- John! John!
Để đi nhanh hơn, cậu tóm bàn tay phải vào cây trụ giữa cầu thang và hầu như buông mình trượt xuống dưới sâu.
John cũng có lẽ đang chờ cậu. Tiếng báo động vang dội các bức tường:
- Coi chừng các bậc thang!
Nhưng đã quá muộn, Henry, thật sự đã lao vào căn hầm bí mật của hải tặc Râu Đen. Cậu va mạnh vào John vì không kịp né sang một bên nên hai đứa trẻ cùng nhau lăn ra đất.
John là đứa đầu tiên tách được ra. Cậu đứng lên và nhìn Henry vẫn còn ngồi bóp cùi chỏ.
- Cậu điếc đặc rồi hả? Cậu không nghe tớ hét lên bảo cậu coi chừng các bậc thang hay sao?
Henry lắc đầu mấy cái liền để tỉnh lại. Vừa bóp cùi chỏ bị đau, cậu vừa ném cái nhìn giận dữ về phía cầu thang.
- Cái bậc thang quỷ quái này làm sao vậy? Thật ngu xuẩn khi…
- Ngu xuẩn ư? – John ngắt lời. – Không phải là ý kiến của tớ đâu nhé.
Henry ngạc nhiên quay sang thằng bạn đang vờ quan sát trần nhà.
- Cậu muốn nói gì, John? Ở đó có một nấc thang cao gấp đôi những nấc thang khác! Mà cậu cho là không là ngu xuẩn ư?
Henry khinh khỉnh nói tiếp:
- Nếu như tớ đã đứng trong căn nhà này, tớ đã biết và không bị ngã như thế!
John bực bội phản đối. Nó chỉ bậc thang.
- Những nấc thang như cái này có rất nhiều trong những lâu đài ở châu Âu.
Henry mỉa mai:
- Những người vào thời đó, có lẽ là người hết sức ngu xuẩn! Chắc họ thích bị dập mặt mỗi khi đi xuống căn hầm của họ!
Cậu đứng lên đi đến cầu thang và đếm. Cậu nhận thấy cái nấc thang mà cậu đang đề cập tới là nấc thang thứ sáu từ dưới lên và thật sự nó cao gấp hai lần các nấc thang khác.
John tỏ vẻ khuất phục giải thích cho bạn nghe rõ ràng:
- Cậu hãy tưởng tượng rằng cậu đã sống ở đây hơn hai thế kỷ. Một ngày nọ, một tên cầm dao rượt đuổi theo cậu trong cầu thang này. Cậu thì biết nấc thang quái quỷ này, còn hắn, hoàn toàn mù tịt về nó. Lúc đó thì việc gì đã xảy ra? Nó trượt vào lao xuống. Còn cậu, cậu vẫn đứng vững. Cậu chờ nó trong hầm với một cây gậy hay vũ khí nào đó. Cậu thấy chưa? Họ không ngu như cậu nghĩ đâu.
Nói xong, John quay gót, trong khi bạn của cậu vẫn nhìn trân trân vào nấc thang. Một chút ánh sáng trong căn hầm đến từ ống thông gió hẹp được đặt ở giữa trần nhà. Nhờ vào lường ánh sáng này John bắt đầu lục soát khắp nơi.cậu phát hiện những sợi xích sắt nặng trịch có những chiếc vòng xây cố định trong tường. Chúng đã rỉ sét, phủ đầy bụi. Ở đầu mỗi sợi xích có một chiếc vòng sắt nhỏ.
- Nhìn cái này, Henry! – John kêu lên. – Khi tớ nói với giáo sư Allan chúng ta tìm thấy căn hầm này hay đúng hơn là cái ngục tối này, chắc chắn ông ấy sẽ chạy ngay đến.
Cậu bé đá vào các sợi xích.
- Chắc chúng dành cho bọn tù nhân… có lẽ là những người mà hải tặc Râu Đen bắt cóc để tống tiền.
Cậu bé đi đến gần ba cái hốc mà cậu đã nhận ra trong phần xa nhất và tối tăm nhất của phòng giam, vừa đi vừa vấp những mảnh vụn nằm lăn lóc trên mặt đất. Cậu dừng lại, quan sát những cánh cửa dày hé mở che khuất một phần hai con đường. Cánh cửa thứ ba bị rỉ sét và ẩm ướt làm long bản lề đã đổ từ rất lâu rồi.
Hai cánh cửa còn đứng vững có mang những ống khóa lớn hoặc đục thông phần trên khung cửa nhỏ hình chữ nhật có chấn song chắc chắn. Cả hai cánh cửa như được hàn dính vào tường bằng những mạng nhện đầy bụi.
John quay sang Henry. Henry đang quan sát những dây xích và nhất là mặt đất dưới các xích này. Câu vẫn mong tìm thấy một đồng tiền vàng thứ hai.
- Đây nhanh lên! – John nói. – Tớ đã tìm thấy những gian ngục thất.
Trong khi Henry đang đi ngang phòng giam, John đi vào một gian phòng chật hẹp. Ánh sáng của cái ống thông gió yết ớt hắt vào gian phòng nhưng cũng đủ để trông thấy không có gì đáng chú ý, trần của nó làm bằng vòm bằng đá thô. Tuy nhiên trong một góc, vữa đã bong đi, một tảng đá đã rơi ra. Nơi đó có một lỗ toang hoác và đen ngòm. Sau một lúc do dự, John thọc tay vào. Những ngón tay của cậu sờ nắn một vật mà ngay lúc đầu cậu nghĩ rằng đó là một con chuột chết đã khô cứng. Cậu lấy hết can đảm và cố chế ngự sự kinh tởm để không buông và kéo vật này ra ngoài. Thật là nhẹ nhõm khi cậu nhận ra đó là một cuộn giấy đã phủ đầy bụi.
- Henry! – John mừng rỡ thét lên. – Nhìn xem tớ đã tìm ra cái gì đây?
Cậu bé thận trọng mở cuộn giấy cứng như giấy bồi kêu dưới tay cậu. Nhưng Henry đã càu nhàu đi về phía cửa:
- Cậu tìm thấy một mảnh giấy! Trúng lớn rồi! Bây giờ, ta đi nào!
- Ồ, nó có vẻ cũ lắm… Có cả chữ viết lên đó nữa!
Cậu đẩy bạn sang một bên để đi ra trước khỏi xà lim và bước đến chỗ thông gió.
- Thật vậy sao? Có
Nói rằng Henry lấy đồng tiền từ tay John là dùng không đúng từ. Vì cậu bé vội giật lấy và nói:
- Đưa tớ xem nào! Có thể còn hàng trăm đồng tiền như thế này ở tại đây.
Cậu bé cho đồng tiền vào trong túi. Nhưng John lại đã lại bắt đầu bò đi lục tìm từ bức tường này sang bức tường khác, từ lỗ hổng này sang lỗ hổng khác để tìm một kho báu.
Henry vội vàng bò theo bạn. Cậu vừa thọc sâu tay xuống dưới lớp bụi của sàn nhà vừa hỏi:
- Cậu có nghĩ rằng sẽ tìm được những đồng tiền khác nữa hay không?
Giọng John đáp lại từ xa:
- Cậu nói gì, tớ không hiểu?
Henry nói lớn hơn:
- Tớ nói là cậu có nghĩ rằng sẽ tìm được những đồng tiền vàng nữa không?
- Có lẽ thế.
Chúng làm việc như những con chuột chũi bị đói. Chúng đào bới, sục sạo làm dấy lên hàng đống bụi dày, khuấy động đống đất đá, xem xét tỉ mỉ từng xó xỉnh, khe rãnh nơi mà mắt con người có thể nhìn thấy được từ hơn hai thế kỷ qua. Chúng cực nhọc len lỏi trong những hầm hố mà những người công nhân phá hủy ngôi nhà đã tạo ra trong khi bốc những lớp trang trí mới thực hiện vài chục năm gần đây. Chúng tự tạo một con đường qua những đống rác rưởi và thường chúng phải xé bỏ những tấm mạng nhện dày như những bức màn thực thụ.
-Nào, nhanh lên đi. – Henry sốt ruột nói, – Cậu không muốn xem những gì tớ đã tìm sao hả?
- Có chứ! – John đáp với vẻ như muốn nói. – Cậu thật là phiền quá đi!
Cậu đi theo sau Henry vào trong hành lang vừa cố làm ra vẻ không thấy quan tâm. Thình lình cậu dừng lại, cúi xuống, mân mê sợi dây giày, mặc dù chúng đã được buộc chặt tử tế. Henry chờ bạn, càng lúc càng sốt ruột. Đứng trên ngưỡng cửa vào phòng chính, cậu nhìn John vẫn đang nghiêng mình tiếp tục buộc dây giày.
- Đến đây… Đến đây đi mà! – Cậu bé giận dỗi nói. – Cậu sẽ lo buộc dây giày sau!
Tuy nhiên John làm như không biết rằng bạn mình càng lúc càng nổi giận, vừa làm bộ thắt nút dây giày, cậu đã có một ảo giác lạ thường. Cậu nhìn thấy Henry đang quỳ gần một trong những chiếc hòm mà những hải tặc cất giấu kho tàng.Chiếc hòm này gần những đồng tiền vàng và làm rơi ra từ những kẽ tay hàng trăm đồng tiền lấp lánh!
Bị ám ảnh bởi ảo giác đó, John đứng thẳng người lên, lòng tràn đầy một nỗi buồn mênh mông. Cậu nhận ra rằng Henry đã thật sự khám phá ra một cái gì đó và e sợ sẽ chứng kiến một điều tệ hại hơn, cậu không dám hỏi vật tìm ra là cái gì. Đầu óc đầy những ý nghĩ không vui lê chân tiến đến.
- Nào, cái cậu tìm thấy là cái gì vậy?
- Một cánh cửa… Cuối cùng, phải, một cánh cửa.
- Nếu như cậu ấy muốn mình sập bẫy, thì lầm rồi!
Đúng lúc đó, giọng nói của Henry vang lên, thành thật và thôi thúc:
- Nhanh lên nào John! Cậu phải nhìn thấy cái này. Thật tuyệt!
Đến lượt John chui vào những mảnh ván. Cậu bé có cảm tưởng trên mình là một mái nhà rất nghiêng. Henry chờ đón cậu với một vẻ chiến thắng:
- Tớ đã nói gì với cậu hả? Không phải là một cánh cửa mà là một lối đi vào. Nhưng tớ không nhìn lầm phải không nào?
John mở to mắt lắp bắp: (…)
Hai cậu bé bò đến gần lối đi vào. Quỳ gối cạnh nhau ở bậc cửa, chúng nhìn vào một cầu thang xoắn ốc tối om. Chúng nhìn thấy những bức tường, những nấc thang, một trần nhà nơi những tảng đá trơn và xám phủ một lớp rêu xanh. Chúng cũng nhìn thấy một bức màng nhện te tua phủ xuống từ trần nhà này.
Không khí bụi bậm và ẩm thấp. Những luồng không khí lạnh lẽo nhẹ nhàng bốc lên từ hướng hai cậu bé và có tiếng nước rơi từng giọt.
- Đây chắc chắn là lối đi bí mật của hải tặc Râu Đen, – John thì thầm.
- Chắc chắn là như thế. – Henry đáp và nở một nụ cười tinh quái. – Tớ mong rằng lần sau cậu sẽ tin khi tớ nói với cậu rằng tớ đã tìm ra cái gì đó!
John đứng lên nhưng chỉ lom khom thôi vì sợ đụng vào những tấm ván trên đầu. Và làm như không nghe điều mà bạn cậu vừa nói, cậu nói khi bước xuống bậc thang thứ nhất:
- Tớ tự hỏi con đường này đưa đến đâu?
- Tớ cũng vậy. – Henry lơ đãng đáp.
Rồi khi nhận thấy John đã bắt đầu đi xuống cầu thang cậu cũng đứng lên.
- Cậu muốn đi xuống thật sao?
- Sao lại không chứ? Còn cậu?
- Không bao giờ!
Đến lượt John cười phá lên nói:
- Cậu sẽ không nói rằng cậu sợ chứ?
Henry tỏ vẻ tức giận, phản đối;
- Tớ mà sợ à?
- Nếu không sợ thì chúng ta cùng xuống bên dưới. Chúng ta sẽ thấy rõ xem nó có đáng quan tâm không?
Lấy hết can đảm Henry qua mặt John, nhảy bốn bậc thang một đi xuống. Bỗng cậu khựng lại, nhíu mày, khuôn mặt căng thẳng nhìn trong bóng tối. Chợt cậu quay lại, leo bốn bậc thang một và nói:
- Đúng như cậu nghĩ!
- Có chuyện gì vậy Henry? – John hỏi.
- Tối đen như một cái giếng ấy, không thấy gì cả.
- Cậu có mẩu nến, còn tớ có bao diêm.
Henry thành thật tiếc rằng cậu đã tìm ra cái cầu thang chết tiệt. Vì cậu không sợ hãi mà chỉ thận trọng. Cậu không bao giờ thích những nơi phủ đầy bóng tối. Còn về John, cậu rất thích bạn mình và xem như là người bạn thân nhất. Nhưng John luôn luôn đưa đến cho cậu những thử thách. Và cậu chính là chúa trùm về công việc này! Cũng như lần này đây cậu muốn cả hai phải xuống cầu thang tối như chui xuống hang chuột chũi này. Tại sao có loại người hay chõ mũi vào một nơi, không ngừng thử giải quyết mọi vấn đề như thế nhỉ. Henry miễn cưỡng lôi từ túi bên phải ra mẩu nến và đồng thời cậu cũng muốn kiểm tra xem đồng tiền có còn ở trong túi nữa hay không.
- Chắc là không cháy, nó cũ quá rồi. – Cậu nói khi chìa mẩu nến vàng và hết sức mong rằng sẽ đúng như cậu nói.
John chờ đợi, túi diêm trong một tay. Và tay kia cầm một que với ngón trỏ và ngón cái sẵn sàng bật lên.
- Hãy dốc ngược đầu lên cho bấc nằm ở dưới. – Cậu ra lệnh. – Tớ đốt nó đây.
Khi que diêm được đốt, cậu đưa ngọn lửa gần bấc nến. Trước hết một chùm tia lửa bốc lên… rồi sau một thời gian hai trăm năm trong bóng tối và giá lạnh mẩu nến kêu tí tách và bùng lên. Nó không tạo ra một ngọn lửa dịu dàng và rõ như nến hiện đại. Nó bốc khói và phát ra một ánh sáng yếu ớt và hăng hăng mùi lưu huỳnh. Hơn nữa nó chảy và xông đầy mũi bọn trẻ mùi mỡ bị đốt cháy. Cuối cùng nó dội lên trần nhà, chung quanh tường một thứ ánh sáng khi rõ khi mờ chập chờn khóe lên không khí trở nên nặng nề, ấm cúng đáng sợ.
Henry hầu như đờ đẫn vừa nhìn ngọn lửa vừa nghĩ: “Dĩ nhiên, sáng còn hơn không”.
Cậu bé lớn tiếng nhận xét:
- Không tốt lắm phải không?
- Ừ. – John thừa nhận. –Nhưng nó vẫn cháy. Điều cần thiết là vậy.
Henry đưa mu bàn tay lên quẹt mũi, hít một hơi, rồi nhìn cầu thang, ít ra là đến khúc quanh đầu tiên.
- Nếu cậu muốn. – Henry đề nghị. – Tớ sẽ đi lấy đèn pin. Cây nến này không tốt, nó chắc chắn sẽ tắt ngấm thôi.
- Không đâu Henry, nó sẽ không tắt đâu. – John đáp lại. – Nó còn cháy tốt mà!
Sau một lúc im lặng, John nói:
- Cậu nghĩ gì vậy? Rằng tớ có ý định xuống tận dưới đó à? Không đâu, tớ chỉ muốn xuống một vài bậc thang là đủ rồi.
Henry nhíu mày:
- Nghe này, John. Tớ chỉ cần hơn năm phút để đi lấy cây đèn pin. Nó sẽ .chiếu sáng tốt hơn cây nến này, hơn nữa bố tớ cũng mới vừa thay pin
- Được. Nhưng cậu không biết rằng, nếu cậu về nhà mẹ cậu sẽ tìm ra một việc gì đó bắt cậu làm. Còn tớ, tớ sẽ phải chờ ở đây à?
John ngừng một chốc và nói thêm:
- Henry, cậu biết đấy, tớ hoàn toàn không muốn đi xuống cầu thang này một mình. Còn nến thì tớ chắc chắn đủ cho cả hai chúng ta.
Ánh mắt của cậu bé có vẻ van lơn khiến Henry nhớ đến đôi mắt của con chó Butch của cậu.
Điều đang chi phối Henry là một phần cậu e rằng nếu cậu trở về nhà sẽ bị mẹ cậu giữ lại, một phần này nặng hơn. Nó có cảm tưởng rằng John cần cậu. Không phải lúc nào cũng có đồng loại cần đến sự giúp đỡ của cậu, hầu như là sự bảo vệ của cậu. Đặc biệt là John có vẻ như không bao giờ cần ai. Do đó Henry tự cảm thấy mình rất quan trọng và vô cùng được vuốt ve.
- Nào, Henry, ta đi thôi! – John lại nói với ánh mắt van lơn.
Hầu như sự hăng hái luôn thắng thế khi nó được sự vuốt ve động viên. Và Henry cuối cùng cũng thực hiện những gì John chờ đợi cậu như mọi khi.
Chiếc cầu thang có vẻ như xuống thấp thẳng đứng trong lòng đất. Henry đi sau John và đi sát vào người bạn. Cậu đặt một tay đặt lên vai bạn và tay kia chống vào những phiến đá lạnh lẽo nhẵn bóng như tìm kiếm điểm tựa. Hai đứa trẻ lặng lẽ xuống từng bậc thang. Những tiếng động bên ngoài, Tiếng xe chạy trong đường bên cạnh xa dần rồi trở nên càng lúc càng yếu đi. Không bao lâu John và Henry chỉ còn nghe những tiếng giọt nước. Dần dần chúng nó có cảm giác bị bao trùm bởi một tấm chăn ướt.
Thình lình Henry hét lên, đập lên ngực, lên gáy, vặn vẹo người, giậm chân. Do không thấy trên tường một mạng nhện đầy bụi bặm cậu đã thọc tay vào. Một con vật đen, có nhiều chân đã chạy trên cườm tay, leo lên cánh tay và chui vào cánh tay ngắn của áo sơ mi.
- Gì vậy Henry? Cậu suýt làm tớ đánh rơi cây nến!
- Một con nhện hay một con vật khác tớ không biết nữa, đã bò dọc cánh tay tớ! Nào John chúng ta hãy bỏ đi!
- Nó đi chưa?
- Rồi, tớ nghĩ là vậy.
- Vậy thì đừng nghĩ đến nó nữa, thế thôi.
- Ồ, không! Tớ sẽ bỏ đi. – Henry nói với giọng hết sức bình tĩnh, lạ lùng không muốn cho ai bàn cãi gì cả.
John hầu như muốn làm theo lời bạn, khi cậu bỗng có một sáng kiến. Cậu nhìn nhanh về phía độ dốc đáng chóng mặt của chiếc cầu thang.
- Khoan đã, Henry, nhìn kìa!
Henry đã bắt đầu đi lên cầu thang bỗng quay lại.
- Cái gì vậy?
- Chính lúc cậu la lên tớ đã định nói với cậu. Nhìn xuống dưới kia đi!
- Đâu? – Henry vừa nói vừa chỉ xuống bậc thang. – Tớ chẳng thấy gì cả.
- Kia kìa. – John nhấn mạnh, vừa che ánh nến vừa hất hàm chỉ chân cầu thang.
Henry vươn cổ ra.
- Tớ không hiểu, John… Hình như trong cái hầm này có ánh sáng. Làm sao mà…
- Tớ không biết. Theo cậu chúng ta đang ở độ sâu bao nhiêu hả?
Không chờ Henry trả lời, John cương quyết lao nhanh về phía trước.
Henry kêu to:
- Đừng bỏ đi như thế! Cậu mang nến theo, tớ phải thấy chỗ đặt chân để đi chứ!
Mặc dù không còn cần đến nến Henry vẫn thận trọng khi bắt đầu xuống cầu thang lại. Đồng thời cậu cũng tiếp tục phản đối “những kẻ có nến mà bỏ rơi bạn bè trong bóng tối”. Cậu nghe tiếng bước chân của John bỗng nhiên thay đổi nhịp điệu, chuyển sang một chuỗi tiếng trượt để rồi cuối cùng là một tiếng kêu cố nén lại.
Henry há hốc mồm một lúc rối thì thầm hỏi:
- Xảy ra chuyện gì vậy?
Bây giờ trừ tiếng nước nhỏ giọt và tiếng còi xe cấp cứu từ xa, cậu không còn nghe gì nữa cả. Bỗng cậu thét lên và cử động mạnh.
- John! John!
Để đi nhanh hơn, cậu tóm bàn tay phải vào cây trụ giữa cầu thang và hầu như buông mình trượt xuống dưới sâu.
John cũng có lẽ đang chờ cậu. Tiếng báo động vang dội các bức tường:
- Coi chừng các bậc thang!
Nhưng đã quá muộn, Henry, thật sự đã lao vào căn hầm bí mật của hải tặc Râu Đen. Cậu va mạnh vào John vì không kịp né sang một bên nên hai đứa trẻ cùng nhau lăn ra đất.
John là đứa đầu tiên tách được ra. Cậu đứng lên và nhìn Henry vẫn còn ngồi bóp cùi chỏ.
- Cậu điếc đặc rồi hả? Cậu không nghe tớ hét lên bảo cậu coi chừng các bậc thang hay sao?
Henry lắc đầu mấy cái liền để tỉnh lại. Vừa bóp cùi chỏ bị đau, cậu vừa ném cái nhìn giận dữ về phía cầu thang.
- Cái bậc thang quỷ quái này làm sao vậy? Thật ngu xuẩn khi…
- Ngu xuẩn ư? – John ngắt lời. – Không phải là ý kiến của tớ đâu nhé.
Henry ngạc nhiên quay sang thằng bạn đang vờ quan sát trần nhà.
- Cậu muốn nói gì, John? Ở đó có một nấc thang cao gấp đôi những nấc thang khác! Mà cậu cho là không là ngu xuẩn ư?
Henry khinh khỉnh nói tiếp:
- Nếu như tớ đã đứng trong căn nhà này, tớ đã biết và không bị ngã như thế!
John bực bội phản đối. Nó chỉ bậc thang.
- Những nấc thang như cái này có rất nhiều trong những lâu đài ở châu Âu.
Henry mỉa mai:
- Những người vào thời đó, có lẽ là người hết sức ngu xuẩn! Chắc họ thích bị dập mặt mỗi khi đi xuống căn hầm của họ!
Cậu đứng lên đi đến cầu thang và đếm. Cậu nhận thấy cái nấc thang mà cậu đang đề cập tới là nấc thang thứ sáu từ dưới lên và thật sự nó cao gấp hai lần các nấc thang khác.
John tỏ vẻ khuất phục giải thích cho bạn nghe rõ ràng:
- Cậu hãy tưởng tượng rằng cậu đã sống ở đây hơn hai thế kỷ. Một ngày nọ, một tên cầm dao rượt đuổi theo cậu trong cầu thang này. Cậu thì biết nấc thang quái quỷ này, còn hắn, hoàn toàn mù tịt về nó. Lúc đó thì việc gì đã xảy ra? Nó trượt vào lao xuống. Còn cậu, cậu vẫn đứng vững. Cậu chờ nó trong hầm với một cây gậy hay vũ khí nào đó. Cậu thấy chưa? Họ không ngu như cậu nghĩ đâu.
Nói xong, John quay gót, trong khi bạn của cậu vẫn nhìn trân trân vào nấc thang. Một chút ánh sáng trong căn hầm đến từ ống thông gió hẹp được đặt ở giữa trần nhà. Nhờ vào lường ánh sáng này John bắt đầu lục soát khắp nơi.cậu phát hiện những sợi xích sắt nặng trịch có những chiếc vòng xây cố định trong tường. Chúng đã rỉ sét, phủ đầy bụi. Ở đầu mỗi sợi xích có một chiếc vòng sắt nhỏ.
- Nhìn cái này, Henry! – John kêu lên. – Khi tớ nói với giáo sư Allan chúng ta tìm thấy căn hầm này hay đúng hơn là cái ngục tối này, chắc chắn ông ấy sẽ chạy ngay đến.
Cậu bé đá vào các sợi xích.
- Chắc chúng dành cho bọn tù nhân… có lẽ là những người mà hải tặc Râu Đen bắt cóc để tống tiền.
Cậu bé đi đến gần ba cái hốc mà cậu đã nhận ra trong phần xa nhất và tối tăm nhất của phòng giam, vừa đi vừa vấp những mảnh vụn nằm lăn lóc trên mặt đất. Cậu dừng lại, quan sát những cánh cửa dày hé mở che khuất một phần hai con đường. Cánh cửa thứ ba bị rỉ sét và ẩm ướt làm long bản lề đã đổ từ rất lâu rồi.
Hai cánh cửa còn đứng vững có mang những ống khóa lớn hoặc đục thông phần trên khung cửa nhỏ hình chữ nhật có chấn song chắc chắn. Cả hai cánh cửa như được hàn dính vào tường bằng những mạng nhện đầy bụi.
John quay sang Henry. Henry đang quan sát những dây xích và nhất là mặt đất dưới các xích này. Câu vẫn mong tìm thấy một đồng tiền vàng thứ hai.
- Đây nhanh lên! – John nói. – Tớ đã tìm thấy những gian ngục thất.
Trong khi Henry đang đi ngang phòng giam, John đi vào một gian phòng chật hẹp. Ánh sáng của cái ống thông gió yết ớt hắt vào gian phòng nhưng cũng đủ để trông thấy không có gì đáng chú ý, trần của nó làm bằng vòm bằng đá thô. Tuy nhiên trong một góc, vữa đã bong đi, một tảng đá đã rơi ra. Nơi đó có một lỗ toang hoác và đen ngòm. Sau một lúc do dự, John thọc tay vào. Những ngón tay của cậu sờ nắn một vật mà ngay lúc đầu cậu nghĩ rằng đó là một con chuột chết đã khô cứng. Cậu lấy hết can đảm và cố chế ngự sự kinh tởm để không buông và kéo vật này ra ngoài. Thật là nhẹ nhõm khi cậu nhận ra đó là một cuộn giấy đã phủ đầy bụi.
- Henry! – John mừng rỡ thét lên. – Nhìn xem tớ đã tìm ra cái gì đây?
Cậu bé thận trọng mở cuộn giấy cứng như giấy bồi kêu dưới tay cậu. Nhưng Henry đã càu nhàu đi về phía cửa:
- Cậu tìm thấy một mảnh giấy! Trúng lớn rồi! Bây giờ, ta đi nào!
- Ồ, nó có vẻ cũ lắm… Có cả chữ viết lên đó nữa!
Cậu đẩy bạn sang một bên để đi ra trước khỏi xà lim và bước đến chỗ thông gió.
- Thật vậy sao? Có

