truyen ma | Hồn ma hải tặc Râu Đen
ếng của gã hải tặc nhuộm đầy máu. Với một tiếng thét giận dữ điên cuồng hắn lao đến vừa vung cao thanh gương chỉ huy to lớn của mình bổ xuống người sĩ quan trẻ. Viên trung úy chỉ được vũ trang một thanh gươm nhẹ. Nhưng ông ta chấp nhận trận chiến. Hai lưỡi gươm chạm nhau phát ra tiếng lách cách. Vào lúc đó, một thủy thủ của Maynard tấn công Râu Đen phía sau sườn. Anh ta đưa kiếm lên quét một vòng nhanh như chớp đánh vào gáy Râu Đen và cắt nửa phần gáy của hắn.
Hải tặc Râu Đen đưa một bàn tay lên ôm giữ đầu và quay ngược lại thọc lưỡi gươm vào ngực người thủy thủ. Sau đó gầm lên như một con thú dữ, hắn đứng tựa lưng vào một cột buồm. Hàng loạt đạn chọc thủng người hắn. Điều này không ngăn được hắn một lần nữa chĩa mũi súng về phía Maynard. Nhưng lúc hắn sắp bóp cò đôi mắt hắn trở nên trong suốt, những ngón tay mở ra và khẩu súng rơi xuống. Hắn đã chết nhưng vẫn đứng thẳng, tựa lưng vào cột buồm, chân dạng ra, đồng tử thất thần nhìn vào mặt viên sĩ quan trẻ. Do tàu bị va chạm mạnh thân thể mất thăng bằng của thuyền trưởng Edward Teach, hỗn danh Râu Đen, từ từ gập xuống và lăn kềnh ra boong tàu.
Trung úy Robert Maynard nhận được một trăm livre tiền thưởng. Tuy thống đốc Eden quyết định hơi trễ một chút trong việc cạnh tranh với người đồng nghiệp Spotswood của mình về mặt rộng lượng. Nhưng để tỏ ra rằng ông ta cũng là một thành viên được thuyết phục và trật tự. Ông ta tặng cho người chiến thắng Râu Đen quán rượu “Đầu Heo Rừng”.
Ngày 6 tháng riêng 1719, bà Augusta Stowcraft bị kết án hành nghề phù thủy và chết trên giàn hỏa thiêu.
Một buổi trưa thứ sáu của mùa xuân, hai đứa trẻ mười bốn tuổi vừa trò chuyện vừa chen vai giữa đám học sinh chậm chạp tiến về phía cổng trường trung học Godolphin. Khi cả hai thoát ra ngoài, chúng nhanh chân bước ra đường lớn rồi đến đại lộ Maynard, đi về phía quán rượu “Đầu Heo Rừng”.
Sau một lúc chúng đi chậm lại. Một trong hai đứa, cao hơn, mảnh khảnh, mặt đầy tàn nhang, cất tiếng hỏi:
- John này, có phải người ta sắp phá hủy quán rượu “Đầu Heo Rừng” thật không?
- Đúng đấy, Henry, công việc đã bắt đầu.
John, đứa trẻ thấp có mái tóc nâu dáng người tròn trịa, đáp:
- Thật ngu xuẩn! Tại sao phá hủy một ngôi nhà xưa tốt đẹp bị ma ám ấy vậy?
- Tại sao ư? – John lặp lại. – Vì Joe Maynard cuối cùng cũng đã bán khu vực này cho người ta xây dựng một trạm xăng. Bây giờ, đi đến đó nào. Nếu không đi nhanh hơn, khi chúng ta đến đó thì sẽ không còn bức tường nào nữa.
Từ bên trong quán rượu vang lên những tiếng búa đập đinh tai thoát ra và tiếng thạch cao kêu lách tách liên tục rơi trên sàn nhà. Jake Kowalek giám sát nhóm thợ làm công việc phá chúng. Đó là một người đàn ông khoảng sáu mươi tuổi. Lúc này, xuyên qua lớp bụi và khói thuốc lá đang nhìn mái quán rượu “Đầu Heo Rừng” với một vẻ phân vân lo lắng.
Rồi ông rảo bước vào bên trong quán rượu, đi qua gian phòng chính mà nền đã lỗ chỗ mục nát, và sau khi cúi mình để đi qua một cái vòm, ông đi vào một gian phòng hẹp, trần rất thấp. Nơi đó trong lúc người ta tháo gỡ hết lớp gỗ ốp lát và lớp thạch cao thì những cây cột to lộ ra.
Hai công nhân mình phủ đầy bụi đang đứng đối diện nhau. Một trong hai người, đầu nghiêng sang một bên vai quay ra cửa sổ. Người kia cố gắng lấy một mảnh thạch cao rơi vào mắt với một chiếc khăn tay. Vừa làm hắn vừa lặp đi lặp lại, giọng bực tức:
- Đừng động đậy! Mình làm sao mà lấy ra được. Sao mày không ngừng động đậy như vậy?
Người quản đốc tiến đến, quan sát con mắt chảy đầy lệ, đặt tay lên vai người công nhân:
- Nghe này Jerry, chắc chắn là không nghiêm trọng, nhưng anh phải đến gặp bác sĩ, chẳng hạn như chỗ bác sĩ Rolls đấy.
Cùng một lúc ông ta nghĩ: “Chắc phải phát điên lên mất. Đấy là người thợ thứ sáu phải bỏ dở công việc chỉ trong ngày hôm nay thôi! Sáu người với những vết thương thật là buồn cười, chỉ như đùa ấy. Vừa đủ nặng để không phải làm việc và bình yên trở về nhà xem truyền hình. Trong việc này, có gì đó không ổn. Thí dụ như người cất cái nhà này! Ôi tôi thật muốn biết hắn là ai! Những cây đinh có thể đếm trên đầu ngón tay. Khắp nơi chỉ có những chiếc nêm và chốt. Không thể rút cái gì ra được hết. Còn những chiếc búa có đầu nhọn thì thoát đi khỏi tay công nhân, nhảy nhót lung tung… và những công nhân bị thương nữa! Bây giờ, đến lượt Jerry, tay thợ tốt nhất của mình, bị cái gì đó rơi vào mắt. Tôi dám cược bất cứ cái gì là nó chỉ đi làm sau hai ngày nữa!”
Ban đầu, công việc khá dễ dàng. Những trang trí, những phần phụ thêm vào từ lâu sau khi xây dựng quán đã dễ dàng được bốc ra trong hai mươi bốn đồng giờ. Nhưng bây giờ đã đi vào phần chính của ngôi nhà thì gặp hết trở ngại này đến trở ngại khác. Jake Kowalek quyết định:
- Đã đến lúc phải thông báo cho ông chủ!.
Ông ta đi ra khỏi quán rượu, băng qua đường, vào một cửa hàng tạp hóa, tiến về phía chiếc điện thoại, đưa một đồng tiền vào rãnh, bốc máy lên và chờ. Không bao lâu, một giọng nói êm ái rót vào tai:
- Công ty dầu lửa Stanfort xin nghe.
- Xin chào Alice! Tôi là đốc công đây, xin được nói chuyện với ngài Bailly.
- Xin lỗi ai muốn nói với ông Bailly ạ?
- Ồ, cô không nhận ra tôi sao? Jake Kowalek đây. Tôi cần nói chuyện với ông Bailly gấp!
Sau một vài giây, giọng nói của người phụ nữ được nối tiếp với một giọng nam êm dịu như tiếng một vá than rơi trên sàn xe tải còn trống khiến người quản đốc giật nảy mình đưa ống nghe ra khỏi tai.
- Thế nào? – Ông Bailly lặp lại. – Có gì không ổn nào?
- Nhiều lắm, thưa ông chủ. Tôi biết rằng những điều tôi sắp kể ra cho ông nghe sẽ có vẻ rất ngu xuẩn. Tuy nhiên, tôi đoan chắc với ông rằng tất cả đều thật. Trong cái quán rượu này, không có gì muốn bị phá hủy cả. Người ta cho rằng tất cả chỉ liền thành một khối. Tôi đã cho sáu người của tôi nghỉ việc vì họ bị thương. Còn những điều kỳ lạ khác như cái giỏ đựng bữa ăn tự nhiên biến mất như có phép lạ. Không sao làm việc được!
- Chỉ có thế thôi sao?
- Ồ! Không! Không chỉ có giỏ thức ăn bị mất mà còn cả những dụng cụ đã mất nữa. Ngài có nhớ cái búa mà ngài đưa cho chúng tôi cách nay hai ba ngày không? Vậy mà khi đến lúc tôi lấy ra làm nó đã bị vặn vẹo như con rắn. Không ai có thể điều khiển được. Nó lao về phía người sử dụng và truy đuổi người đó nữa. Mac buộc phải chạy trốn nó! Còn điều này nữa, vừa rồi cả ngôi nhà tràn đầy những khói lá thuốc.
- Có hỏa hoạn à?
- Không thưa ngài, không hề có lửa mà chỉ có khói. Khói hôi thối như bốc ra từ rác bị thiêu hủy. Rồi một lúc sau nó hạ xuống khiến không ai làm việc được trong suốt một giờ.
Nói xong người quản đốc chờ, cho rằng những lời nói của ông Bailly cho biết ý kiến. Nhưng ông vẫn im lặng, vì thế Jake Kowalek nói tiếp:
- Còn một việc khác nữa, thưa ngài. Một công nhân của tôi đã khám phá được dưới căn nhà có một loại như phòng giam, có thể có nhiều phòng giam với những khoan sắt được đính trong tường, những máy móc mà tôi chưa từng thấy, khiến tôi lạnh cả lưng. Tình trạng lúc này là như thế đó thưa ngày. Thật không vui chút nào. Nhiều công nhân của tôi không làm việc. Họ nói rằng cái quán này bị ma ám.
Jake Kowalek lại chờ câu trả lời. Rồi ông ta chợt gọi:
- Thưa ông chủ! Ông chủ ơi…
Ông ta đưa ống nghe ra khỏi tai. Quan sát nó, nhíu mày, rồi thét vào ống nghe:
- Ông chủ! Ông chủ ơi!
- Nhẹ nhàng một chút nào, đồ to mồm! – Đến lượt ông Bailly thét lên. – Anh làm thủng màng nhĩ của tôi mất!
Ông quản đốc phàn nàn:
- Tôi nghĩ rằng điện thoại bị cắt. Nào, theo ngài, ta phải làm gì đây?
- Nghe đây, anh bạn. Anh đã nhận phá hủy nó và càng nhanh càng tốt có phải không nào? Nếu như anh không làm được, tại sao anh không bỏ một que diêm đang cháy trong một góc nào đó… do bất cẩn?
Jake Kowalek cười gằn:
- Này, ngài Bailly, không thể làm như thế được! Ông không thể đòi hỏi tôi làm việc đó!
- Tại sao không?
- Này nhé, ngôi nhà này được làm bằng gỗ như cẩm lai, gỗ lim, gỗ tếch, gỗ mun… toàn những loại gỗ quý. Tất cả một số tiền khổng lồ đã đổ vào đó. Chỉ một điều phiền phức nhất đó là khi phá hủy nó… không thể được! Thí dụ như tôi đã bố trí hai công nhân lên tháo máy nạp bằng gỗ. Chúng tháo những được những tấm đầu. Nhưng, bên dưới có những tấm khác mà không làm chúng nhúc nhích được.
- Tại sao?
- Làm sao tôi biết được.
Ông Bailly lặng im vài giây rồi hỏi:
- Những tấm lợp đó bằng gì vậy? Bằng vàng chăng?
Jake Kowalek bắt đầu cảm thấy cuộc đối thoại có phần dễ chịu hơn. Đây là lần đầu tiên anh nói chuyện một cách thoải mái với ông chủ của mình.
- Ồ, không! – Anh đáp lại. – Không phải bằng vàng! Chúng chỉ bằng gỗ mun.
- Bằng gỗ mun ư? – Ông Bailly sửng sốt hỏi lại. – Ai giàu mà ngu, sử dụng gỗ mun trong sườn một mái nhà như vậy?
- Thì người cất ngôi nhà ấy chứ ai. Tôi nghĩ rằng anh ta muốn nó tồn tại cả nghìn năm. Và tin tôi nếu như không tìm được cách hạ nó thì nó sẽ tồn tại hàng nghìn năm thật đó.
Lại im lặng, lần này kéo dài khá lâu khiến ông quản đốc lo ngại gọi lớn:
- Ông chủ… Này! Ông chủ ơi…!
Không có câu trả lời, ông Bailly ấn mình sâu trong ghế bành, trầm tư suy nghĩ, trong lòng ông đang lộn xộn những từ kèo, cột, mun, trắc, cẩm lai, nhà bị ma ám, lợi nhuận quan trọng cụ thể, hồn ma. Cái từ “hồn ma” cứ ám ảnh mãi trong đầu óc của ông…
Cuối cùng khi ông Bailly nói lại, giọng của ông thật dịu dàng, yếu ớt không còn chút âm hưởng nào của vá than rơi trên sàn xe.
- Được, tôi nghe đây Kowalek.
- Còn bọn công nhân của tôi thì sao, thưa ngài? Tôi có ý kiến là ta nên cho họ về nhà sau khi trả lương ngày mai. Nếu như ta không làm như vậy thì ngày thứ hai không còn ai làm việc ở trong công trường nữa. Ngài có thể tin nơi tôi, công nhân chán ngấy công việc ở đây rồi!
Jake Kowalek nói thêm :
- Hơn nữa cũng sắp đến giờ nghỉ rồi…
- Được rồi đồng ý thôi Kowalek.
- Nhưng thưa ông chủ, ngài không muốn đến đây sao? Chính ông sẽ đánh giá được mọi việc. Dĩ nhiên với điều kiện không còn khói và mùi thối sẽ hoàn toàn bay mất.
- Được rồi, đồng ý thôi Kowalek. Thật không may, tôi phải đi, máy bay sẽ cất cánh trong một giờ nữa.
- Thôi thì mặc kệ nó…
- Tôi sẽ về vào trưa thứ hai… có thể hơi muộn một chút. Lúc đó tôi sẽ đến xem. Hãy cố gắng cho mọi việc suôn sẻ cho đến lúc tôi trở về nhé.
- Xin ngài cứ tin ở tôi.
Ông Bailly buông máy xuống và thở dài mệt nhọc, ấn mình thật sâu trong ghế bành. Gương mặt ông biến sắc do xúc động. Ông cắn môi dưới và lầm bầm nhìn chăm chăm vào chiếc điện thoại :
- Bằng gỗ mun! Những tấm lợp nhà bằng gỗ mun!
Hai đứa trẻ Henry Oberteuffer và John Jones dừng lại cách quán “Đầu Heo Rừng” khoảng ba mươi mét. Chúng thấy những người công nhân miễn cưỡng đi vào quán rượu rồi bước ra mang theo đủ mọi dụng cụ, ném chúng vào trong xe tải và lần lượt leo lên. Chiếc xe nặng nề lăn bánh trên con đường mòn qua những bồn cỏ hai bên có cây đu. Rồi sau khi vượt qua cửa cổng nó chạy ra ngoài đường cái.
Bên trong quán “Đầu Heo Rừng” không có ai. Mặt đất chung quanh đầy những rác rưởi của nhiều thế hệ người cắm trại bất cẩn đã để lại. Từ lúc những công nhân đã rời đi, và nhất là từ khi những người đi đường không còn quan tâm đến cái quán rượu cũ kỹ, John và Henry nhận ra rằng chúng là những người duy nhất trên đời quan tâm đến số phận của nó.
Chúng nhìn nhau rồi không nói một câu, bước chân qua cổng, lao người trên con đường mòn và chỉ dừng lại khi đứng giữa gian phòng chính của quán rượu. Sau đó chúng đi đến từng gian phòng và quan sát kỹ lưỡng khắp nơi. Chúng nhận thấy một vách ngăn gỗ đã biến mất và quang cảnh đã thay đổi.
Từ khi những phần thêm đã bị lấy đi rất gần đây cùng những phần trang trí mong manh, những cột đẽo bằng tay đã xuất hiện cũng như lớp vữa đầu tiên. Những gian phòng đã lấy lại vẻ cũ kỹ hơn, trang trọng hơn, nhưng cũng có một không khí đặc biệt hơn trước.
Henry cúi nhặt một vật thật sự “thời thượng”, một mẩu nến may mắn thoát khỏi răng chuột. Nó bỏ vào túi.
John là người đầu tiên cất tiếng :
- Không còn như trước nữa, cậu có nhận thấy như vậy không?
- Có. – Henry đáp.
- Những công nhân đã bốc đi những lớp đá có khoảng năm mươi năm hay một trăm năm trước. Bây giờ mới đúng như lúc Râu Đen còn sống ở đây.
John tách xa bạn và bắt đầu nhìn giữa những cây cột. Henry nhìn bạn và tự hỏi: “Nó tìm cái gì vậy?”, và nói với giọng chế giễu:
- John, làm cách nào mà cậu có vẻ rành nơi này quá vậy?
John là bạn thân nhất của Henry. Thật ra, chúng có thể coi là không bao giờ rời nhau. Nhưng khi John tỏ ra biết một số vấn đề mà cậu không biết, Henry khó giấu được sự bực dọc. Và việc này thường xảy ra khiến cậu không muốn thú nhận sự dốt nát của mình, dù với chính bản thân.
- Cậu nói rằng tớ biết rành à, về cái gì chứ? – John càu nhàu.
- Về ngôi nhà này và về Râu Đen. – Henry đáp trong lúc đến lượt cậu đưa đầu vào giữa hai cây cột.
Rồi cậu nói thêm khi thích thú nghe giọng nói biến đổi giữa những cây cột này:
- Ai bảo với cậu rằng hải tặc Râu Đen đã sống ở đây?
John đáp lại và nhấn mạnh từng từ một:
- Tớ biết điều này từ rất lâu rồi! Và tớ cũng biết ngôi nhà này xưa kia được xây dựng như thế nào khi nghe người ta kháo nhau ở ngoài đường. Cậu không có nghe sao? Nhung điều khiến tớ ngạc nhiên hơn cả mà cậu không biết là chính hải tặc Râu Đen đã xây dựng quán “Đầu Heo Rừng” này!
Herry đành nói dối:
- Có chứ, tớ biết điều này mà. Cậu cho tớ là thứ người gì hả? Một tên ngu dốt phải không?
Cậu nhìn John một lúc. John ngồi xổm xuống, tay bóp nát một mảnh thạch cao.
- Cậu tìm gì thế? – Henry hỏi.
- Một vài vật. – John đáp nhưng không đứng lên. – Giáo sư sử học Allan dạy lịch sử có nói với tớ rằng người ta tìm được rất nhiều vật đáng quan tâm trong những ngôi nhà cổ như ngôi nhà này, khi phá bỏ chúng.
Henry lại đi quan sát nhiều lỗ hổng trong tường.
- Trò đùa! – Henry lẩm bẩm.
Tuy vậy, trong lòng cậu cũng rất xúc động. Cậu không rút đầu ra khỏi hai cây cột, đi dọc tường quỳ gối xuống, luồn qua một cái lỗ hổng mà John vừa bỏ đi, tìm trong đống gỗ mục nát nhưng không tìm được gì cả.
- John, tớ chẳng tìm thấy gì cả! – Cậu bé rên rỉ.
- Tiếp tục tìm đi!
Sau vài giây im lặng, Henry chợt kêu lên:
- Xem này, John!
Cậu ngồi ngay xuống đất, quan sát vật vừa tìm được. Đó là một vật nhỏ màu vàng, đường kính độ bằng một đồng đô la bạc.
- Cậu tìm thấy cái gì vậy? – John hỏi.
- Cái này!
John chạy đến ngồi xuống cạnh bạn:
- Đó là một loại ảnh tượng đeo ở cổ. – Henry vừa nói vừa chìa ra cho John xem.
John đứng lên, chạy đến cửa sổ. Henry theo sau. John mở to mắt vì tò mò hơn là ngạc nhiên.
- Ồ! Ồ! – Cậu bé hồi hộp nói nhỏ. – Cậu tìm thấy nó ở đâu vậy?
Henry cười hãnh diện rồi cố tình che đậy bằng cách uể oải nói: (…)
- Cậu có thể nói là cậu gặp may rồi đấy!
- Theo cậu thì là cái gì vậy? Một ảnh tượng đeo ở cổ hả?
- Không! – John lầu bầu. – Đó là một đồng tiền… một đồng tiền cổ.
Cậu bé quay sang bạn, nói tiếp:
- Cậu muốn tớ cho biết ý kiến riêng của tớ không? Tớ có cảm tưởng đó là một đồng tiền vàng Tây Ban Nha cổ. Chúng ta sẽ đi hỏi giáo sư Allan. Chắc chắn ông ta sẽ biết nó là cái gì. Cậu có thấy không,
Hải tặc Râu Đen đưa một bàn tay lên ôm giữ đầu và quay ngược lại thọc lưỡi gươm vào ngực người thủy thủ. Sau đó gầm lên như một con thú dữ, hắn đứng tựa lưng vào một cột buồm. Hàng loạt đạn chọc thủng người hắn. Điều này không ngăn được hắn một lần nữa chĩa mũi súng về phía Maynard. Nhưng lúc hắn sắp bóp cò đôi mắt hắn trở nên trong suốt, những ngón tay mở ra và khẩu súng rơi xuống. Hắn đã chết nhưng vẫn đứng thẳng, tựa lưng vào cột buồm, chân dạng ra, đồng tử thất thần nhìn vào mặt viên sĩ quan trẻ. Do tàu bị va chạm mạnh thân thể mất thăng bằng của thuyền trưởng Edward Teach, hỗn danh Râu Đen, từ từ gập xuống và lăn kềnh ra boong tàu.
Trung úy Robert Maynard nhận được một trăm livre tiền thưởng. Tuy thống đốc Eden quyết định hơi trễ một chút trong việc cạnh tranh với người đồng nghiệp Spotswood của mình về mặt rộng lượng. Nhưng để tỏ ra rằng ông ta cũng là một thành viên được thuyết phục và trật tự. Ông ta tặng cho người chiến thắng Râu Đen quán rượu “Đầu Heo Rừng”.
Ngày 6 tháng riêng 1719, bà Augusta Stowcraft bị kết án hành nghề phù thủy và chết trên giàn hỏa thiêu.
Một buổi trưa thứ sáu của mùa xuân, hai đứa trẻ mười bốn tuổi vừa trò chuyện vừa chen vai giữa đám học sinh chậm chạp tiến về phía cổng trường trung học Godolphin. Khi cả hai thoát ra ngoài, chúng nhanh chân bước ra đường lớn rồi đến đại lộ Maynard, đi về phía quán rượu “Đầu Heo Rừng”.
Sau một lúc chúng đi chậm lại. Một trong hai đứa, cao hơn, mảnh khảnh, mặt đầy tàn nhang, cất tiếng hỏi:
- John này, có phải người ta sắp phá hủy quán rượu “Đầu Heo Rừng” thật không?
- Đúng đấy, Henry, công việc đã bắt đầu.
John, đứa trẻ thấp có mái tóc nâu dáng người tròn trịa, đáp:
- Thật ngu xuẩn! Tại sao phá hủy một ngôi nhà xưa tốt đẹp bị ma ám ấy vậy?
- Tại sao ư? – John lặp lại. – Vì Joe Maynard cuối cùng cũng đã bán khu vực này cho người ta xây dựng một trạm xăng. Bây giờ, đi đến đó nào. Nếu không đi nhanh hơn, khi chúng ta đến đó thì sẽ không còn bức tường nào nữa.
Từ bên trong quán rượu vang lên những tiếng búa đập đinh tai thoát ra và tiếng thạch cao kêu lách tách liên tục rơi trên sàn nhà. Jake Kowalek giám sát nhóm thợ làm công việc phá chúng. Đó là một người đàn ông khoảng sáu mươi tuổi. Lúc này, xuyên qua lớp bụi và khói thuốc lá đang nhìn mái quán rượu “Đầu Heo Rừng” với một vẻ phân vân lo lắng.
Rồi ông rảo bước vào bên trong quán rượu, đi qua gian phòng chính mà nền đã lỗ chỗ mục nát, và sau khi cúi mình để đi qua một cái vòm, ông đi vào một gian phòng hẹp, trần rất thấp. Nơi đó trong lúc người ta tháo gỡ hết lớp gỗ ốp lát và lớp thạch cao thì những cây cột to lộ ra.
Hai công nhân mình phủ đầy bụi đang đứng đối diện nhau. Một trong hai người, đầu nghiêng sang một bên vai quay ra cửa sổ. Người kia cố gắng lấy một mảnh thạch cao rơi vào mắt với một chiếc khăn tay. Vừa làm hắn vừa lặp đi lặp lại, giọng bực tức:
- Đừng động đậy! Mình làm sao mà lấy ra được. Sao mày không ngừng động đậy như vậy?
Người quản đốc tiến đến, quan sát con mắt chảy đầy lệ, đặt tay lên vai người công nhân:
- Nghe này Jerry, chắc chắn là không nghiêm trọng, nhưng anh phải đến gặp bác sĩ, chẳng hạn như chỗ bác sĩ Rolls đấy.
Cùng một lúc ông ta nghĩ: “Chắc phải phát điên lên mất. Đấy là người thợ thứ sáu phải bỏ dở công việc chỉ trong ngày hôm nay thôi! Sáu người với những vết thương thật là buồn cười, chỉ như đùa ấy. Vừa đủ nặng để không phải làm việc và bình yên trở về nhà xem truyền hình. Trong việc này, có gì đó không ổn. Thí dụ như người cất cái nhà này! Ôi tôi thật muốn biết hắn là ai! Những cây đinh có thể đếm trên đầu ngón tay. Khắp nơi chỉ có những chiếc nêm và chốt. Không thể rút cái gì ra được hết. Còn những chiếc búa có đầu nhọn thì thoát đi khỏi tay công nhân, nhảy nhót lung tung… và những công nhân bị thương nữa! Bây giờ, đến lượt Jerry, tay thợ tốt nhất của mình, bị cái gì đó rơi vào mắt. Tôi dám cược bất cứ cái gì là nó chỉ đi làm sau hai ngày nữa!”
Ban đầu, công việc khá dễ dàng. Những trang trí, những phần phụ thêm vào từ lâu sau khi xây dựng quán đã dễ dàng được bốc ra trong hai mươi bốn đồng giờ. Nhưng bây giờ đã đi vào phần chính của ngôi nhà thì gặp hết trở ngại này đến trở ngại khác. Jake Kowalek quyết định:
- Đã đến lúc phải thông báo cho ông chủ!.
Ông ta đi ra khỏi quán rượu, băng qua đường, vào một cửa hàng tạp hóa, tiến về phía chiếc điện thoại, đưa một đồng tiền vào rãnh, bốc máy lên và chờ. Không bao lâu, một giọng nói êm ái rót vào tai:
- Công ty dầu lửa Stanfort xin nghe.
- Xin chào Alice! Tôi là đốc công đây, xin được nói chuyện với ngài Bailly.
- Xin lỗi ai muốn nói với ông Bailly ạ?
- Ồ, cô không nhận ra tôi sao? Jake Kowalek đây. Tôi cần nói chuyện với ông Bailly gấp!
Sau một vài giây, giọng nói của người phụ nữ được nối tiếp với một giọng nam êm dịu như tiếng một vá than rơi trên sàn xe tải còn trống khiến người quản đốc giật nảy mình đưa ống nghe ra khỏi tai.
- Thế nào? – Ông Bailly lặp lại. – Có gì không ổn nào?
- Nhiều lắm, thưa ông chủ. Tôi biết rằng những điều tôi sắp kể ra cho ông nghe sẽ có vẻ rất ngu xuẩn. Tuy nhiên, tôi đoan chắc với ông rằng tất cả đều thật. Trong cái quán rượu này, không có gì muốn bị phá hủy cả. Người ta cho rằng tất cả chỉ liền thành một khối. Tôi đã cho sáu người của tôi nghỉ việc vì họ bị thương. Còn những điều kỳ lạ khác như cái giỏ đựng bữa ăn tự nhiên biến mất như có phép lạ. Không sao làm việc được!
- Chỉ có thế thôi sao?
- Ồ! Không! Không chỉ có giỏ thức ăn bị mất mà còn cả những dụng cụ đã mất nữa. Ngài có nhớ cái búa mà ngài đưa cho chúng tôi cách nay hai ba ngày không? Vậy mà khi đến lúc tôi lấy ra làm nó đã bị vặn vẹo như con rắn. Không ai có thể điều khiển được. Nó lao về phía người sử dụng và truy đuổi người đó nữa. Mac buộc phải chạy trốn nó! Còn điều này nữa, vừa rồi cả ngôi nhà tràn đầy những khói lá thuốc.
- Có hỏa hoạn à?
- Không thưa ngài, không hề có lửa mà chỉ có khói. Khói hôi thối như bốc ra từ rác bị thiêu hủy. Rồi một lúc sau nó hạ xuống khiến không ai làm việc được trong suốt một giờ.
Nói xong người quản đốc chờ, cho rằng những lời nói của ông Bailly cho biết ý kiến. Nhưng ông vẫn im lặng, vì thế Jake Kowalek nói tiếp:
- Còn một việc khác nữa, thưa ngài. Một công nhân của tôi đã khám phá được dưới căn nhà có một loại như phòng giam, có thể có nhiều phòng giam với những khoan sắt được đính trong tường, những máy móc mà tôi chưa từng thấy, khiến tôi lạnh cả lưng. Tình trạng lúc này là như thế đó thưa ngày. Thật không vui chút nào. Nhiều công nhân của tôi không làm việc. Họ nói rằng cái quán này bị ma ám.
Jake Kowalek lại chờ câu trả lời. Rồi ông ta chợt gọi:
- Thưa ông chủ! Ông chủ ơi…
Ông ta đưa ống nghe ra khỏi tai. Quan sát nó, nhíu mày, rồi thét vào ống nghe:
- Ông chủ! Ông chủ ơi!
- Nhẹ nhàng một chút nào, đồ to mồm! – Đến lượt ông Bailly thét lên. – Anh làm thủng màng nhĩ của tôi mất!
Ông quản đốc phàn nàn:
- Tôi nghĩ rằng điện thoại bị cắt. Nào, theo ngài, ta phải làm gì đây?
- Nghe đây, anh bạn. Anh đã nhận phá hủy nó và càng nhanh càng tốt có phải không nào? Nếu như anh không làm được, tại sao anh không bỏ một que diêm đang cháy trong một góc nào đó… do bất cẩn?
Jake Kowalek cười gằn:
- Này, ngài Bailly, không thể làm như thế được! Ông không thể đòi hỏi tôi làm việc đó!
- Tại sao không?
- Này nhé, ngôi nhà này được làm bằng gỗ như cẩm lai, gỗ lim, gỗ tếch, gỗ mun… toàn những loại gỗ quý. Tất cả một số tiền khổng lồ đã đổ vào đó. Chỉ một điều phiền phức nhất đó là khi phá hủy nó… không thể được! Thí dụ như tôi đã bố trí hai công nhân lên tháo máy nạp bằng gỗ. Chúng tháo những được những tấm đầu. Nhưng, bên dưới có những tấm khác mà không làm chúng nhúc nhích được.
- Tại sao?
- Làm sao tôi biết được.
Ông Bailly lặng im vài giây rồi hỏi:
- Những tấm lợp đó bằng gì vậy? Bằng vàng chăng?
Jake Kowalek bắt đầu cảm thấy cuộc đối thoại có phần dễ chịu hơn. Đây là lần đầu tiên anh nói chuyện một cách thoải mái với ông chủ của mình.
- Ồ, không! – Anh đáp lại. – Không phải bằng vàng! Chúng chỉ bằng gỗ mun.
- Bằng gỗ mun ư? – Ông Bailly sửng sốt hỏi lại. – Ai giàu mà ngu, sử dụng gỗ mun trong sườn một mái nhà như vậy?
- Thì người cất ngôi nhà ấy chứ ai. Tôi nghĩ rằng anh ta muốn nó tồn tại cả nghìn năm. Và tin tôi nếu như không tìm được cách hạ nó thì nó sẽ tồn tại hàng nghìn năm thật đó.
Lại im lặng, lần này kéo dài khá lâu khiến ông quản đốc lo ngại gọi lớn:
- Ông chủ… Này! Ông chủ ơi…!
Không có câu trả lời, ông Bailly ấn mình sâu trong ghế bành, trầm tư suy nghĩ, trong lòng ông đang lộn xộn những từ kèo, cột, mun, trắc, cẩm lai, nhà bị ma ám, lợi nhuận quan trọng cụ thể, hồn ma. Cái từ “hồn ma” cứ ám ảnh mãi trong đầu óc của ông…
Cuối cùng khi ông Bailly nói lại, giọng của ông thật dịu dàng, yếu ớt không còn chút âm hưởng nào của vá than rơi trên sàn xe.
- Được, tôi nghe đây Kowalek.
- Còn bọn công nhân của tôi thì sao, thưa ngài? Tôi có ý kiến là ta nên cho họ về nhà sau khi trả lương ngày mai. Nếu như ta không làm như vậy thì ngày thứ hai không còn ai làm việc ở trong công trường nữa. Ngài có thể tin nơi tôi, công nhân chán ngấy công việc ở đây rồi!
Jake Kowalek nói thêm :
- Hơn nữa cũng sắp đến giờ nghỉ rồi…
- Được rồi đồng ý thôi Kowalek.
- Nhưng thưa ông chủ, ngài không muốn đến đây sao? Chính ông sẽ đánh giá được mọi việc. Dĩ nhiên với điều kiện không còn khói và mùi thối sẽ hoàn toàn bay mất.
- Được rồi, đồng ý thôi Kowalek. Thật không may, tôi phải đi, máy bay sẽ cất cánh trong một giờ nữa.
- Thôi thì mặc kệ nó…
- Tôi sẽ về vào trưa thứ hai… có thể hơi muộn một chút. Lúc đó tôi sẽ đến xem. Hãy cố gắng cho mọi việc suôn sẻ cho đến lúc tôi trở về nhé.
- Xin ngài cứ tin ở tôi.
Ông Bailly buông máy xuống và thở dài mệt nhọc, ấn mình thật sâu trong ghế bành. Gương mặt ông biến sắc do xúc động. Ông cắn môi dưới và lầm bầm nhìn chăm chăm vào chiếc điện thoại :
- Bằng gỗ mun! Những tấm lợp nhà bằng gỗ mun!
Hai đứa trẻ Henry Oberteuffer và John Jones dừng lại cách quán “Đầu Heo Rừng” khoảng ba mươi mét. Chúng thấy những người công nhân miễn cưỡng đi vào quán rượu rồi bước ra mang theo đủ mọi dụng cụ, ném chúng vào trong xe tải và lần lượt leo lên. Chiếc xe nặng nề lăn bánh trên con đường mòn qua những bồn cỏ hai bên có cây đu. Rồi sau khi vượt qua cửa cổng nó chạy ra ngoài đường cái.
Bên trong quán “Đầu Heo Rừng” không có ai. Mặt đất chung quanh đầy những rác rưởi của nhiều thế hệ người cắm trại bất cẩn đã để lại. Từ lúc những công nhân đã rời đi, và nhất là từ khi những người đi đường không còn quan tâm đến cái quán rượu cũ kỹ, John và Henry nhận ra rằng chúng là những người duy nhất trên đời quan tâm đến số phận của nó.
Chúng nhìn nhau rồi không nói một câu, bước chân qua cổng, lao người trên con đường mòn và chỉ dừng lại khi đứng giữa gian phòng chính của quán rượu. Sau đó chúng đi đến từng gian phòng và quan sát kỹ lưỡng khắp nơi. Chúng nhận thấy một vách ngăn gỗ đã biến mất và quang cảnh đã thay đổi.
Từ khi những phần thêm đã bị lấy đi rất gần đây cùng những phần trang trí mong manh, những cột đẽo bằng tay đã xuất hiện cũng như lớp vữa đầu tiên. Những gian phòng đã lấy lại vẻ cũ kỹ hơn, trang trọng hơn, nhưng cũng có một không khí đặc biệt hơn trước.
Henry cúi nhặt một vật thật sự “thời thượng”, một mẩu nến may mắn thoát khỏi răng chuột. Nó bỏ vào túi.
John là người đầu tiên cất tiếng :
- Không còn như trước nữa, cậu có nhận thấy như vậy không?
- Có. – Henry đáp.
- Những công nhân đã bốc đi những lớp đá có khoảng năm mươi năm hay một trăm năm trước. Bây giờ mới đúng như lúc Râu Đen còn sống ở đây.
John tách xa bạn và bắt đầu nhìn giữa những cây cột. Henry nhìn bạn và tự hỏi: “Nó tìm cái gì vậy?”, và nói với giọng chế giễu:
- John, làm cách nào mà cậu có vẻ rành nơi này quá vậy?
John là bạn thân nhất của Henry. Thật ra, chúng có thể coi là không bao giờ rời nhau. Nhưng khi John tỏ ra biết một số vấn đề mà cậu không biết, Henry khó giấu được sự bực dọc. Và việc này thường xảy ra khiến cậu không muốn thú nhận sự dốt nát của mình, dù với chính bản thân.
- Cậu nói rằng tớ biết rành à, về cái gì chứ? – John càu nhàu.
- Về ngôi nhà này và về Râu Đen. – Henry đáp trong lúc đến lượt cậu đưa đầu vào giữa hai cây cột.
Rồi cậu nói thêm khi thích thú nghe giọng nói biến đổi giữa những cây cột này:
- Ai bảo với cậu rằng hải tặc Râu Đen đã sống ở đây?
John đáp lại và nhấn mạnh từng từ một:
- Tớ biết điều này từ rất lâu rồi! Và tớ cũng biết ngôi nhà này xưa kia được xây dựng như thế nào khi nghe người ta kháo nhau ở ngoài đường. Cậu không có nghe sao? Nhung điều khiến tớ ngạc nhiên hơn cả mà cậu không biết là chính hải tặc Râu Đen đã xây dựng quán “Đầu Heo Rừng” này!
Herry đành nói dối:
- Có chứ, tớ biết điều này mà. Cậu cho tớ là thứ người gì hả? Một tên ngu dốt phải không?
Cậu nhìn John một lúc. John ngồi xổm xuống, tay bóp nát một mảnh thạch cao.
- Cậu tìm gì thế? – Henry hỏi.
- Một vài vật. – John đáp nhưng không đứng lên. – Giáo sư sử học Allan dạy lịch sử có nói với tớ rằng người ta tìm được rất nhiều vật đáng quan tâm trong những ngôi nhà cổ như ngôi nhà này, khi phá bỏ chúng.
Henry lại đi quan sát nhiều lỗ hổng trong tường.
- Trò đùa! – Henry lẩm bẩm.
Tuy vậy, trong lòng cậu cũng rất xúc động. Cậu không rút đầu ra khỏi hai cây cột, đi dọc tường quỳ gối xuống, luồn qua một cái lỗ hổng mà John vừa bỏ đi, tìm trong đống gỗ mục nát nhưng không tìm được gì cả.
- John, tớ chẳng tìm thấy gì cả! – Cậu bé rên rỉ.
- Tiếp tục tìm đi!
Sau vài giây im lặng, Henry chợt kêu lên:
- Xem này, John!
Cậu ngồi ngay xuống đất, quan sát vật vừa tìm được. Đó là một vật nhỏ màu vàng, đường kính độ bằng một đồng đô la bạc.
- Cậu tìm thấy cái gì vậy? – John hỏi.
- Cái này!
John chạy đến ngồi xuống cạnh bạn:
- Đó là một loại ảnh tượng đeo ở cổ. – Henry vừa nói vừa chìa ra cho John xem.
John đứng lên, chạy đến cửa sổ. Henry theo sau. John mở to mắt vì tò mò hơn là ngạc nhiên.
- Ồ! Ồ! – Cậu bé hồi hộp nói nhỏ. – Cậu tìm thấy nó ở đâu vậy?
Henry cười hãnh diện rồi cố tình che đậy bằng cách uể oải nói: (…)
- Cậu có thể nói là cậu gặp may rồi đấy!
- Theo cậu thì là cái gì vậy? Một ảnh tượng đeo ở cổ hả?
- Không! – John lầu bầu. – Đó là một đồng tiền… một đồng tiền cổ.
Cậu bé quay sang bạn, nói tiếp:
- Cậu muốn tớ cho biết ý kiến riêng của tớ không? Tớ có cảm tưởng đó là một đồng tiền vàng Tây Ban Nha cổ. Chúng ta sẽ đi hỏi giáo sư Allan. Chắc chắn ông ta sẽ biết nó là cái gì. Cậu có thấy không,

